KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP Ở CÁC BỆNH NHÂN BỆNH THẬN MẠN GIAI ĐOẠN IIIA-IV CHƯA ĐIỀU TRỊ THAY THẾ THẬN Ở KHOA NỘI THẬN TIẾT NIỆU VÀ LỌC MÁU BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN

Tải xuống

Dữ liệu tải xuống chưa có sẵn.
PDF | 0 | 0

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Trên các bệnh nhân bị bệnh thận mạn, tỷ lệ mắc tăng huyết áp là rất cao, khoảng 80 - 85%. Việc kiểm soát huyết áp trên nhóm bệnh nhân bệnh thận mạn là một việc rất quan trọng bởi việc huyết áp không kiểm soát sẽ làm tiến triển bệnh thận mạn và gia tăng tỷ lệ mắc các biến cố tim mạch thậm chí là tử vong. Tăng huyết áp là bệnh lý thường gặp ở các bệnh nhân bệnh thận mạn mọi giai đoạn. Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị tăng huyết áp ở nhóm bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn IIIa-IV chưa lọc máu điều trị ngoại trú có tăng huyết áp ở Khoa Nội thận tiết niệu và Lọc máu Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên. Phương pháp: Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, bao gồm 60 bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn IIIa-IV chưa điều trị thay thế thận tại Khoa Nội thận tiết niệu và Lọc máu Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên. Kết quả: Tuổi trung bình của các bệnh nhân nghiên cứu là 55,65 ± 11,28. Tỷ lệ bệnh nhân bệnh thận mạn có tăng huyết áp giai đoạn IIIa-IV chưa điều trị thay thế thận nhân tạo có tiền sử nghiện thuốc lálà 10%, uống nhiều rượu là 38%. Huyết áp tâm thu trung bình của các bệnh nhân là 143,67 ± 14,43; Huyết áp tâm trương trung bình của các bệnh nhân là 78,35 ± 6,12 và các bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn càng muộn thì mức huyết áp tối đa trung bình càng có xu hướng tăng. Giátrị ure máu trung bình là 14,35 ± 4,05; Giátrị creatinin máu trung bình là 205,41 ± 64,05; Nồng độ Kali máu trung bình là 4,82 ± 0,45. Càng ở các giai đoạn sau của bệnh thận mạn, nồng độ ure, creatinine máu và kali máu càng có xu hướng tăng. Trong số 60 bệnh nhân nghiên cứu, tỷ lệ bệnh nhân kiểm soát huyết áp được là 31,67% (19 bệnh nhân). Các bệnh nhân ở các giai đoạn bệnh thận mạn càng muộn thì tỷ lệ kiểm soát được huyết áp càng giảm (Với 75% các bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn IIIa; 36,37% bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn IIIb và 16,67% bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn IV kiểm soát được huyết áp) và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Kết luận: Nghiên cứu cung cấp các thông tin về đặc điểm chung, đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị tăng huyết áp của bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn IIIa-IV có tăng huyết áp chưa điều trị thay thế thận tại Khoa Nội thận tiết niệu và Lọc máu Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên.

Đã xuất bản 21-06-2024
Toàn văn
PDF | 0 | 0
Ngôn ngữ
Số tạp chí Tập 3 Số 2 (2024)
Phân mục Nghiên cứu
DOI
Từ khóa Bệnh thận mạn, Tăng huyết áp Chronic Kidney Disease, Hypertension

Creative Commons License

công trình này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-phi thương mại-NoDerivatives 4.0 License International .

Bản quyền (c) 2024 Tạp chí Khoa học và Công nghệ Y Dược

1.
Đinh, H. M., Vũ, T. T. & Lã, D. A. KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP Ở CÁC BỆNH NHÂN BỆNH THẬN MẠN GIAI ĐOẠN IIIA-IV CHƯA ĐIỀU TRỊ THAY THẾ THẬN Ở KHOA NỘI THẬN TIẾT NIỆU VÀ LỌC MÁU BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Y Dược 3, 87–97 (2024).

Couser, W. G., Remuzzi, G., Mendis, S. & Tonelli, M. The contribution of chronic kidney disease to the global burden of major noncommunicable diseases. Kidney Int 80, 1258- 1270 (2011). https://doi.org/10.1038/ki.2011.368

Habas, E., Sr. et al. Blood Pressure and Chronic Kidney Disease Progression: An Updated Review. Cureus 14, e24244 (2022). https://doi.org/10.7759/cureus.24244

Group, K. D. I. G. O. K. B. P. W. KDIGO Clinical Practice Guideline for the Management of Blood Pressure inChronic Kidney Disease. Kidney inter., Suppl. 2, 337-414 (2012).

Thủy, M. T. T. Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp trên bệnh nhân tăng huyết áp kèm suy thận mạn tại khoa khám bệnh, bệnh viện Bạch Mai. (Đại học dược Hà Nội, Hà Nội, 2010).