Tóm tắt
Đặt vấn đề: Các nghiên cứu về mô hình bệnh tật và tử vong sơ sinh chỉ ra rằng có đến 75% có liên quan đến đẻ non, và sơ sinh đẻ non có nguy cơ bị bệnh tật và tử vong cao hơn so với sơ sinh đủ tháng. Tỷ lệ đẻ non ở Việt Nam hiện nay vào khoảng từ 6,5% - 16%. Tỷ lệ tử vong sơ sinh của trẻ đẻ non tháng chiếm từ 75,3% - 87,5% tử vong sơ sinh. Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và phân tích một số yếu tố liên quan đến kết quả điều trị dọa đẻ non tại Bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh. Phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả, cắt ngang, hồi cứu trên 284 hồ sơ bệnh án của thai phụ có tuổi thai từ 22 đến 36 tuần và được điều trị bằng Nifedipine tại Khoa Sản bệnh Bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh từ ngày 01/01/2021 đến ngày 31/12/2022. Kết quả: Đối tượng dọa đẻ non: Nhóm tuổi 20 - 35 chiếm 83,5%, tuổi trung bình 27,68 ± 5,8; Chủ yếu là dân tộc kinh (90,5%) và tới từ nông thôn (77,1%). Nhóm tuổi thai dọa đẻ non nhiều nhất là 32 - 34 tuần (Chiếm 40,5%), 58,1% là con rạ và 20,4% có tiền sử sẩy nạo hút thai. Các sản phụ vào nhập viện với 67,6% là có triệu chứng đau bụng, chiều dài cổ tử cung ngắn 39,4%, tần số cơn co tử cung 1 là chủ yếu (61,6%), tần số 2 - 3 cơn/10 phút chiếm 38%, và 84,5% có cổ tử cung mở 1 cm. Tỷ lệ giữ thai thành công là 94,7%, tỷ lệ thành công giữ thai bằng Nifedipine liên quan mật thiết với tần số cơn co tử cung và mức độ mở của cổ tử cung. Phương trình ước tính khả năng giữ thai thành công bằng Nifedipine (Độ chính xác 94,4%): Log (Odds) = 7,337 - 1,533 x Độ mở cổ tử cung - 1,211 x Tần số cơn co tử cung. Kết luận: Khả năng giữ thai bằng Nifedipine phụ thuộc vào nhiều yếu tố, khám thai và quản lý thai nghén tốt giúp tăng tỷ lệ giữ thai thành công. Tuổi thai dọa đẻ non nhiều nhất 32 - 34 tuần (40,5%), 67,6% có đau bụng, 39,4% có chiều dài cổ tử cung ngắn, 61,6% có tần số cơn co tử cung ≤ 1 và 84,5% có cổ tử cung mở ≤ 1 cm. Tỷ lệ thành công trong điều trị dọa đẻ non tại Bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh năm 2021 - 2022 là 94,7%. Độ mở cổ tử cung và tần số cơn co tử cung là hai yếu tố chính ảnh hưởng tới khả năng thành công của điều trị dọa đẻ non bằng Nifedipine.
công trình này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-phi thương mại-NoDerivatives 4.0 License International . p>
Bản quyền (c) 2024 Tạp chí Khoa học và Công nghệ Y Dược
Bộ Y Tế, Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, ban hành kèm theo quyết định số 4128/QĐ- BYT ngày 29/7/2016, 119-121 (2016).
Nguyễn Việt Hùng, “Đẻ non”, Bài giảng sản phụ khoa tập I, Nhà xuất bản Y học, tr. 123-129 (2016).
Phạm Xuân Tú & Trần Đình Long, Đặc điểm, cách chăm sóc trẻ sơ sinh đủ tháng và thiếu tháng, Bài Giảng Nhi Khoa Tập I, Đại học Y Hà Nội (2013).
Bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh, Phác đồ điều trị khoa sản I, Lưu hành nội bộ, tr 1-4 (2021).
Bộ môn tin học, Giáo trình tin học ứng dụng (dành cho học viên sau đại học), lưu hành nội bộ, 165-166 (2022).
Dương Công Bằng, Hiệu quả cắt cơn gò tử cung của Nifedipine trong điều trị dọa sinh non tại bệnh viện Từ Dũ, Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh (2020).
Huỳnh Nguyễn Khánh Trang & Phạm Tài. Hiệu quả của Nifedipine trong điều trị dọa sinh non ở thai kỳ 28 - 34 tuần tại bệnh viện Hùng Vương. Y học TP. Hồ Chí Minh 18(1), tr. 138-143 (2014).
Nguyễn Thị Kim Tiến & cộng sự. Thực trạng điều trị dọa đẻ non tại bệnh viện Trung Ương Thái Nguyên năm 2017. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Thái Nguyên 194(01), 175-180 (2017).
Lê Thanh Vân & Nguyễn Tiến Lâm, Nhận xét một số yếu tố nguy cơ sinh non tại Bệnh viện phụ sản trung ương năm 2008 số 4, 14-16 (2011).
Đỗ Tuấn Đạt, Nghiên cứu giátrị của Fetal fibronectin âm đạo và Interleukin 8 cổ tử cung trong tiên đoán đẻ non, Luận văn Tiến sĩ Y học, Trường Đại học Y Hà Nội (2018).
Srisuda, S. & cộng sự. Effectiveness of nifedipine in threatened preterm labor: a randomized trial. International Journal of Women’s Health 10, 317-323 (2018).
American College of Obstetricians and Gynecologists (2016), “Management of preterm labor: Practice Bulletin no.171”, Obstetrics & Gynecology, Wolters Kluwer Health, e155-e164 (2016).
